Phần lớn nhà đầu tư đều nắm giữ cổ phiếu ngân hàng: Chuyên gia lý giải nguyên nhân

Ông Nguyễn Minh Hạnh, Giám đốc Trung tâm Phân tích Chứng khoán SHS, cho rằng cổ phiếu ngân hàng vẫn là nhóm ngành đáng chú ý trong 6-12 tháng tới nhờ tăng trưởng lợi nhuận ổn định, định giá ở mức hợp lý và khả năng thu hút dòng tiền.

Tại phiên tọa đàm thứ ba trong khuôn khổ Vietnam Investment Forum 2026 - Summer Summit do VietnamBiz tổ chức chiều 11/6, ông Nguyễn Minh Hạnh, Giám đốc Trung tâm Phân tích CTCP Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS), đã chia sẻ quan điểm về những nhóm ngành có thể mang lại cơ hội đầu tư trong giai đoạn tới.

Đối với giai đoạn 6-12 tháng tới, nếu phải lựa chọn một nhóm ngành đáp ứng các tiêu chí về nền tảng cơ bản, khả năng tăng trưởng và sức hút đối với dòng vốn mới, ông Hạnh cho rằng ngân hàng vẫn là cái tên đáng chú ý nhất.

Theo ông, cổ phiếu ngân hàng hiện diện trong danh mục của phần lớn nhà đầu tư, từ cá nhân đến tổ chức. Sở dĩ nhóm ngành này luôn nhận được sự quan tâm lớn bởi nếu nhìn lại nhiều năm qua, đây gần như là ngành duy nhất duy trì được đà tăng trưởng lợi nhuận tương đối ổn định qua các chu kỳ kinh tế, trong khi nhiều ngành khác liên tục trải qua các giai đoạn tăng giảm thất thường.

Ông Hạnh cho rằng đây cũng là đặc thù của nền kinh tế Việt Nam khi tăng trưởng tín dụng vẫn duy trì ở mức cao trong suốt nhiều năm, tạo điều kiện cho ngành ngân hàng tăng trưởng nổi trội hơn mặt bằng chung.

Bên cạnh đó, ngành ngân hàng hiện chiếm khoảng 30-40% vốn hóa toàn thị trường chứng khoán và vẫn là nhóm ngành có quy mô lớn nhất. Xét trên các tiêu chí như khả năng thu hút dòng tiền, triển vọng tăng trưởng và mặt bằng định giá, đây vẫn là nhóm cổ phiếu hấp dẫn.

"Hiện P/B của nhiều ngân hàng chỉ quanh 1-1,1 lần. Đây là mức tương đối thấp so với bình quân lịch sử. Dù chưa phải vùng rẻ nhất của chu kỳ như giai đoạn 2022-2023, nhưng nhìn chung định giá hiện nay không đắt", ông Hạnh đánh giá.

Ông cũng lưu ý rằng không chỉ ngân hàng mà nhiều nhóm ngành khác trên thị trường hiện đều đang giao dịch dưới mức định giá trung bình 5 năm. Tuy nhiên, sự khác biệt nằm ở việc một số doanh nghiệp sở hữu những câu chuyện riêng đủ sức tạo động lực tăng giá vượt trội. Trong ngành ngân hàng, những đợt tăng mạnh của ACB hay MSB thời gian qua là những ví dụ điển hình.

Dù vậy, vị chuyên gia cho rằng các nhóm ngành có quy mô vốn hóa lớn như ngân hàng muốn bứt phá mạnh cần sự hỗ trợ của dòng tiền rất lớn. Về bản chất, không chỉ cổ phiếu mà hầu hết các loại tài sản tài chính như trái phiếu, bất động sản, quỹ đầu tư hay vàng đều phụ thuộc đáng kể vào thanh khoản thị trường. Khi dòng tiền mạnh lên, giá tài sản có xu hướng tăng; ngược lại, khi thanh khoản suy giảm, áp lực điều chỉnh thường xuất hiện trên diện rộng.

Ngoài ngân hàng, ông Hạnh cũng đánh giá cao triển vọng của nhóm công ty chứng khoán. Đây là ngành có độ nhạy cao với thanh khoản và dòng tiền trên thị trường. Khi hoạt động giao dịch sôi động trở lại, nhóm cổ phiếu chứng khoán thường phản ứng tích cực và hưởng lợi rõ nét.

Ở chiều ngược lại, ông Hạnh cho rằng trên thị trường cũng luôn tồn tại những nhóm ngành nhận được nhiều kỳ vọng nhưng kết quả thực tế lại chưa tương xứng, trong đó có xây dựng và đầu tư công. Dù câu chuyện hưởng lợi từ giải ngân đầu tư công hay dòng vốn ngân sách được đẩy mạnh đã được nhắc đến nhiều năm qua, phần lớn doanh nghiệp trong ngành vẫn gặp không ít khó khăn trong hoạt động kinh doanh.

Vị chuyên gia cho rằng nguyên nhân chủ yếu đến từ việc nhiều doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính quá lớn, với quy mô vay nợ gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu. Trong bối cảnh lãi suất duy trì ở mức cao và giá vật liệu xây dựng có thời điểm tăng mạnh tới 30%, việc duy trì lợi nhuận đã là thách thức, chưa nói đến khả năng tạo ra mức tăng trưởng đột biến.

"Doanh nghiệp vẫn có lợi ích nhất định khi có dự án để triển khai và dòng tiền luân chuyển. Tuy nhiên, để chuyển hóa thành kết quả kinh doanh bứt phá hay tạo ra mức tăng mạnh cho giá cổ phiếu thì khả năng xảy ra là không cao", ông Hạnh nhận định.

Ở góc độ vĩ mô, ông Hạnh lưu ý tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam hiện đã lên khoảng 145%, đồng nghĩa dư địa mở rộng tín dụng trong tương lai sẽ ngày càng thu hẹp. Tăng trưởng tín dụng về cơ bản sẽ tiếp tục được kiểm soát trong một giới hạn nhất định và khó có thể tăng vượt xa mức trần cho phép.

Trong bối cảnh đó, ông cho rằng thị trường vốn sẽ trở thành khu vực có tiềm năng phát triển lớn hơn trong những năm tới. Thị trường này bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, quỹ ETF và nhiều sản phẩm tài chính khác, với lợi thế không bị giới hạn tăng trưởng theo cơ chế hạn mức như tín dụng ngân hàng.

"Không chỉ trong năm nay mà cả 5 năm tới, cuộc đua của các ngân hàng, công ty chứng khoán và doanh nghiệp fintech sẽ tập trung vào việc mở rộng thị trường sản phẩm đầu tư. Đây là lĩnh vực còn rất nhiều dư địa tăng trưởng và chưa bị giới hạn về quy mô", ông Hạnh nói.

Từ góc độ đầu tư dài hạn, chuyên gia SHS cho rằng nhà đầu tư nên ưu tiên những doanh nghiệp nằm trong hệ sinh thái thị trường vốn, có khả năng hưởng lợi trực tiếp từ quá trình phát triển của thị trường tài chính Việt Nam.

Ngược lại, các ngành mang tính chu kỳ như thép hay nhiều lĩnh vực sản xuất hàng hóa khác vẫn phụ thuộc lớn vào biến động giá nguyên liệu đầu vào. Điều này khiến lợi nhuận doanh nghiệp biến động mạnh theo chu kỳ và không dễ tạo ra hiệu quả đầu tư bền vững trong dài hạn.

Tựu chung, ông Hạnh cho rằng thị trường chứng khoán năm 2026 khó có khả năng tăng mạnh như các giai đoạn bùng nổ trước đây. Trong bối cảnh đó, các tài sản tạo ra thu nhập cố định (fixed income) như tiền gửi, trái phiếu,… có thể mang lại mức sinh lời hấp dẫn hơn so với mức tăng chung của thị trường.