Khảo sát biểu lãi suất huy động trực tuyến (tiền gửi online) niêm yết ngày 31/5 cho thấy mặt bằng lãi suất tiết kiệm tiếp tục duy trì sự phân hóa giữa nhóm ngân hàng quốc doanh và nhóm ngân hàng thương mại cổ phần. Trong khi các ngân hàng thuộc nhóm Big4 giữ mức lãi suất cao nhất 6,8%/năm, một số ngân hàng tư nhân vẫn niêm yết từ 7%/năm ở các kỳ hạn dài.
Nhóm Big4: Agribank, Vietcombank, VietinBank cùng áp dụng 6,8%/năm
Tại nhóm ngân hàng quốc doanh, Agribank, Vietcombank và VietinBank đang duy trì mặt bằng lãi suất tương đồng ở hầu hết các kỳ hạn.
Cụ thể, ba ngân hàng này cùng niêm yết lãi suất 4,75%/năm đối với các khoản tiền gửi kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng. Tại kỳ hạn 6 tháng và 9 tháng, lãi suất được áp dụng ở mức 6,6%/năm.
Đối với các khoản tiền gửi từ 12 tháng trở lên, Agribank, Vietcombank và VietinBank cùng áp dụng mức lãi suất 6,8%/năm. Đây cũng là mức lãi suất cao nhất trong biểu huy động trực tuyến của ba ngân hàng này.
Trong khi đó, BIDV tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất thấp hơn. Nhà băng này đang niêm yết 5,8%/năm cho kỳ hạn 6 tháng và 9 tháng, đồng thời áp dụng mức 5,9%/năm đối với kỳ hạn 12 tháng và 18 tháng.
Nhóm ngân hàng lãi suất từ 7%/năm trở lên
Theo khảo sát, hiện có 4 ngân hàng đang niêm yết lãi suất từ 7%/năm tại kỳ hạn 12 tháng gồm LPBank, MBV, PGBank và VIB.
Trong đó, LPBank đang áp dụng mức 7%/năm cho kỳ hạn 12 tháng và 7,1%/năm cho kỳ hạn 18 tháng, thuộc nhóm cao nhất thị trường hiện nay.
MBV cũng gây chú ý khi niêm yết đồng loạt mức 7%/năm cho các kỳ hạn từ 3 tháng đến 18 tháng.
PGBank áp dụng mức 6,9%/năm tại kỳ hạn 6 tháng và 9 tháng, đồng thời niêm yết 7%/năm cho kỳ hạn 12 tháng.
Trong khi đó, VIB đang áp dụng mức lãi suất 7%/năm đối với tiền gửi trực tuyến kỳ hạn 12 tháng.
Nhóm ngân hàng lãi suất từ 6,8% đến dưới 7%/năm
Bac A Bank, BVBank, OCB, MSB cùng nằm trong nhóm có mặt bằng lãi suất thuộc nhóm cao trên thị trường.
Bac A Bank hiện niêm yết lãi suất 6,85%/năm tại kỳ hạn 6 tháng và 9 tháng, tăng lên 6,9%/năm ở kỳ hạn 12 tháng.
BVBank áp dụng mức 6,7%/năm đối với kỳ hạn 6 tháng và 9 tháng, đồng thời niêm yết 6,9%/năm cho kỳ hạn 12 tháng.
OCB cũng đang niêm yết mức 6,9%/năm cho kỳ hạn 12 tháng và 6,8%/năm cho kỳ hạn 18 tháng.
Trong khi đó, MSB áp dụng mức lãi suất 6,8%/năm tại kỳ hạn 12 tháng.
Đáng chú ý, Agribank, Vietcombank và VietinBank cũng thuộc nhóm ngân hàng có lãi suất 12 tháng đạt từ 6,8%/năm trở lên.
Nhóm ngân hàng lãi suất từ 6,5% đến dưới 6,8%/năm
Đây là nhóm có số lượng thành viên đông nhất trên thị trường hiện nay.
Techcombank đang niêm yết lãi suất 6,75%/năm cho kỳ hạn 12 tháng. BaoViet Bank và Saigonbank cùng áp dụng mức 6,7%/năm.
Nam A Bank đang niêm yết 6,6%/năm cho kỳ hạn 12 tháng và tăng lên 6,9%/năm tại kỳ hạn 18 tháng.
Sacombank và SHB cùng áp dụng mức 6,6%/năm cho kỳ hạn 12 tháng. NCB niêm yết 6,5%/năm, trong khi VCBNeo áp dụng mức 6,5%/năm cho cả kỳ hạn 12 tháng và 18 tháng.
Nhóm ngân hàng lãi suất dưới 6,5%/năm
Một số ngân hàng hiện duy trì mặt bằng lãi suất thấp hơn mặt bằng chung thị trường.
MB đang niêm yết lãi suất 6,35%/năm đối với kỳ hạn 12 tháng. TPBank áp dụng mức 6,25%/năm, ABBank là 6,25%/năm.
VietABank, VietBank và Vikki Bank cùng niêm yết lãi suất 6,1%/năm đối với kỳ hạn 12 tháng. VPBank áp dụng mức 6,3%/năm, trong khi PVcomBank ở mức 5,6%/năm.
HDBank, KienlongBank, GPBank và Eximbank hiện nằm trong nhóm có lãi suất 12 tháng dưới 5,5%/năm.
SCB tiếp tục là ngân hàng có lãi suất thấp nhất
Ở chiều ngược lại, SCB vẫn là ngân hàng có mức lãi suất thấp nhất trong bảng khảo sát.
Cụ thể, SCB chỉ niêm yết lãi suất 1,6%/năm đối với kỳ hạn 1 tháng, 1,9%/năm tại kỳ hạn 3 tháng và 3,7%/năm cho kỳ hạn 12 tháng.
Mức lãi suất này thấp hơn đáng kể so với mặt bằng chung của thị trường, nơi phần lớn các ngân hàng đang áp dụng từ 6%/năm trở lên đối với các khoản tiền gửi kỳ hạn 12 tháng.
Nhìn chung, mặt bằng lãi suất huy động ngày 31/5 không có nhiều biến động so với những ngày trước đó. Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa các nhóm ngân hàng vẫn khá rõ rệt khi nhóm Big4 duy trì mức cao nhất 6,8%/năm, trong khi một số ngân hàng tư nhân tiếp tục niêm yết từ 7-7,1%/năm nhằm tăng sức cạnh tranh trong hoạt động huy động vốn.